IMAO LÀ GÌ?

KHÁI NIỆM VỀ IMAO

Imao hẳn không còn xa lại đối với nhiều người nữa. Đây là một loại thuốc chống trầm cảm, được viết tắt của từ Inhibitor Mono Amino Oxydase.
Imao là loại thuốc ngăn cản không cho men oxy hóa khử các amin đơn của chất môi giới hóa học thần kinh như catecholamin và serotonine trong tương bào của thế bào thần kinh. Khi chất này tích tụ sẽ gây tăng hoạt động và tăng hưng phấn tâm thần.

CÁC CHÚ Ý KHI CHỈ ĐỊNH THUỐC IMAO

  • mức độ 4
    Thuốc ức chế IMAO ngăn chặn sự phân giải amin cường giao cảm, vì vậy người bệnh nên loại bỏ tất cả các thức ăn có chứa tyramin như phomát lên men, socola. chuối, đặc biệt là rượu và cà phê, vì các cơn tăng huyết áp xảy ra với tần suất cao hơn
  • mức độ 3

Trong thời kỳ mang thai và cho con bú, thuốc ức chế IMAO không gây quái thai, nhưng nên tránh sử dụng cho phụ nữ mang thai hoặc phụ nữ cho con bú, vì có nhiều tác dụng phụ với các thuốc khác.
Các bệnh nhân suy gan làm tăng độc tính của thuốc ức chế IMAO, làm chậm
sự bất hoạt kèm với nguy cơ hạ huyết áp thế đứng, cơn tăng huyết áp.

  • Mức độ 2

Các bệnh nhân suy tim có nguy cơ tăng huyết áp và hạ huyết áp thế đứng.

  • Mức độ 1

Thuốc ức chế MAO làm giảm cac ngưỡng gây động kinh và có thể làm bắt đầu một cơn động kinh.
Về bệnh tăng huyết áp: Khó tránh hoàn toàn số lần tăng huyết áp.
Về suy thận: Các chức năng thận phải được kiểm tra đều đặn.

TƯƠNG TÁC Với THUỐC IMAO 

Mức độ 4

+ Amantadin: hoặc các thuốc có chức năng tương tự: Sau khi phối hợp với thuốc ức chế IMAO, tương tác có thể dẫn đến tăng huyết áp. Nếu được kê đơn cần cẩn thận liều dùng và thông báo cho bác sỹ mọi bất thường xảy ra.
+ Amineptin:hoặc thuốc tương tự: có nguy cơ tăng huyết áp gây chết người, hay bệnh não, các bệnh co giật, sốt cao, và có nguy cơ tử vong. Chống chỉ định với trường hợp dùng chung thuốc này..
+ Carbamazepin: dùng đồng thời hai thuốc này dẫn đến các cơn tăng huyết áp và co giật, gây tử vong. Sau khi ngừng thuốc ức chế IMAO cần phải giữ khoảng cách ít nhất hai tuần trước khi dùng thuốc carbamazepin và ngược lại. Cấm dùng phối hợp 2 thuốc này.

+ Citalopram: Nguy cơ xuất hiện hội chứng serotonin vì nó thể hiện bằng các rối loạn tâm thần, thậm chí hôn mê, rung giật cơ, hạ hoặc tăng huyết áp, rét run, sốt cao, đổ mồ hôi và tiêu chảy.
Nên giữ khoảng cách hai tuần sau khi ngừng thuốc ức chế IMAO và khi bắt đầu điều trị bằng thuốc chống trầm cảm, và giữ khoảng cách một tuần sau khi ngừng thuốc chống trầm cảm và bắt đầu dùng thuốc ức chế IMAO.
+ Dextromethorphan: Phối hợp 2 thuốc có thể gây sốt cao, hạ huyết áp, hôn mê nặng có thể tử vong. Do tính nghiêm trọng, nên tránh dùng kết hợp 2 thuốc này.

+ Fluoxetin: làm tăng tái nhập serotonin có thể cải thiện đáp ứng với điều trị, nhưng ở thời gian sau lại làm tăng tác dụng độc nghiêm trọng như hạ nhiệt, co giật… Nêm tuân thủ khoảng cách ít nhất hai tuần sau khi ngừng thuốc ức chế IMAO và bắt đầu điều trị bằng thuốc chống trầm cảm serotoninergic.
+Fluvoxamin: làm tăng tái nhập serotonin có thể cải thiện đáp ứng với điều trị, nhưng ở thời gian sau đó có thể bị co giật… Nên tuân thủ khoảng cách ít nhất là hai tuần khi ngừng thuốc ức chế IMAO và bắt đầu điều trị thuốc chống trầm cảm serotoninergic.
+ Levodopa: Gây tương tác dược lực. Thuốc ức chế IMAO ức chế sự phân giải của adrenalin; levodopa là một tiền chất của dopamin. Phối hợp 2 thuốc này có thể gây tăng huyết áp cao. Vì vậy Không phối hợp các thuốc này.
+ L-tryptophan: Khi phối hợp 2 thuốc sẽ gây hội chứng serotonin như: dễ kích động, co cơ, vận động yếu, ý thức kém.

Meperidin: Kết hợp 2 thuốc gây tác dụng phụ như: kích động, co giật, sốt, có thể dẫn tới hôn mê, ngừng thở và tử vong. Tránh kết hợp 2 thuốc này.
+ Mianserin: Thuốc ức chế IMAO ức chế sự phân giải các catecholamin, nó có tính chất cường giao cảm và xuất hiện nguy cơ tai biến tăng huyết áp.Chống chỉ định phối hợp này. phải giữ khoảng cách 3 ngày khi ngừng thuốc ức chế IMAO và mianserin.
+ Oxaflozan: Có tác dụng đồng ức chế hệ thần kinh trung ương. Phối hợp với thuốc ức chế IMAO, có nguy cơ gây hội chứng bồn chồn, lú lẫn, cứng đờ, rét run.Không dùng phối hợp.15 ngày sau khi ngừng thuốc ức chế MAO mới dùng oxaflozan.
+Reserpin: Làm gia tăng nghiêm trọng các tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, có thể dẫn đến tăng huyết áp nặng.Chống chỉ định phối hợp này. Giữ khoảng cách ít nhất một tuần sau khi ngừng thuốc ức chế IMAO và điều trị bằng reserpin.
+ Sibutramin: Phối hợp thuốc gây hội chứng dễ kích thích, co cơ, run, ý thức chậm. Chống chỉ định phối hợp hai thuốc. sau khi đã ngừng dùng thuốc ức chế IMAO được hai tuần mới bắt đầu dùng sibutramin.
+ Sumatriptan: có nguy cơ xuất hiện lú lẫn, sốt cao, co giật, co mạch. không nên phối hợp các thuốc này.
+ Thuốc mophin: khả năng xuất hiện các triệu chứng không đoán trước được, nên thận trọng.Tránh dùng phối hợp chống chỉ định này.

+ Thuốc gây mê có chứa halogen : làm tăng mẫn cảm với các dẫn chất halogen hoá. Gây nguy cơ truỵ mạch. Phải ngừng thuốc ức chế IMAO15 ngày, trước khi phẫu thuật, báo cho bác sĩ gây mê các thuốc đang dùng.
+ Các thuốc tái thu nhận serotonin – nefazodone: lam tăng tái thu nhận serotonin có thể làm tăng các tác dụng độc nghiêm trọng. Cần giữ khoảng cách ít nhất hai tuần giữa khi ngừng thuốc ức chế IMAO và bắt đầu điều trị bằng thuốc chống trầm cảm serotoninergic.

mức độ 3

+ Bupropion: Khi dùng cùng một số thuốc ức chế IMAO không đặc hiệu, độc tính của bupropion sẽ tăng. Chống chỉ định phối hợp bupropion với thuốc ức chế IMAO. Phải giữ khoảng cách nhất hai tuần kể từ khi ngừng thuốc ức chế MAO mới được dùng bupropion.
+ Cafein: ở người uống nhiều cà phê, có thể tăng nguy cơ loạn nhịp tim trầm trọng hoặc hạ huyết áp trầm trọng, vì tác dụng cường giao cảm của cafein. Nên báo cho người bệnh để họ ngừng dùng cà phê trong khi điều trị.
+ Dextropropoxyphen: Làm tăng tác dụng ức chế lên hệ thần kinh trung ương, tăng các tác dụng an thần. Lưu ý nguy cơ này để điều chỉnh liều của hai loại thuốc. Không uống rượu khi dùng thuốc.
+ Heptaminol có tính chất cường giao cảm nếu phối hợp với thuốc ức chế IMAO hay các hợp chất có tính chất thuốc ức chế IMAO, sẽ dẫn đến xuất hiện các cơn tăng huyết áp. Chống chỉ định phối hợp này. Hãy giữ khoảng cách ít nhất hai tuần khi ngừng thuốc ức chế MAO và khi điều trị bằng heptaminol.
+ Insulin: Việc kết hợp với thuốc ức chế IMAO sẽ làm tăng đáp ứng hạ glucose máu do insulin, trạng thái glucose máu sẽ khó trở về bình thường sau khi đã hạ thấp. Thuốc ức chế IMAO kích thích cơ thể sản sinh ra insulin và ức chế sự tái tạo ra glucose. Khi kết hợp thuốc ức chế MAO với insulin, cần theo dõi chặt chẽ lượng glucose trong máu.
+ Procarbazin: Tương tác này có nguy cơ làm rối loạn huyết áp trầm trọng do hoạt tính thuốc ức chế IMAO. Cần tránh phối hợp.
+ Rượu: Phối hợp trên gây tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương. Tốt hơn, không nên phối hợp hai thuốc này, vì nguy cơ an thần nguy hiểm nhất là ở người lái tàu xe và người vận hành máy móc. Người bệnh không uống rượu và không tự ý dùng thuốc hoặc chế phẩm có rượu.
+ Sulfonylurea: Việc kết hợp với thuốc ức chế IMAO sẽ làm tăng nguy cơ hạ glucose máu do các sulfonylurea. Nếu bệnh nhân dùng phối hợp 2 thuốc và bị hạ glucose máu, cần phải điều chỉnh liều thuốc dùng để đưa glucose trong máu về mức bình thường.
+ Thuốc cường giao cảm alpha và beta: làm tăng nguy cơ rối loạn huyết áp nặng, do tích luỹ amin co mạch. Kết hợp này chỉ có thể thực hiện dưới sự kiểm soát chặt chẽ của các bác sĩ chuyên khoa.
+ Thuốc cường giao cảm beta : Với ephedrin, fenoterol, terbutalin, làm tăng các tác dụng trên hệ tim mạch. Thuốc ức chế IMAO gây tích luỹ các amin co mạch gây nguy cơ rối loạn huyết áp, gây nhức đầu, loạn nhịp tim, nôn mửa…Nên dùng sau 15 ngày sau khi ngừng thuốc ức chế IMAO.
+ Thuốc ức chế MAO typ B: Gây nguy cơ tăng huyết áp kịch phát do tích luỹ các catecholamin ở não. Cấm phối hợp thuốc va phai chọn một biện pháp điều trị khác..

mức độ 2

+ Bromocriptin hoặc các thuốc tương tự: Do tính chất đối kháng dopaminergic của thuốc ức chế IMAO có khả năng làm tăng nồng độ của prolactin và phản tác dụng của bromocriptin.Tác dụng đối kháng này có thể làm rối loạn mục tiêu điều trị chính.
+ Buspiron: Nguy cơ làm tăng huyết áp khi phối hợp hai thuốc. Phải theo dõi huyết áp khi đã, đang và sau khi kết hợp điều trị thêm một trong hai thuốc này. Ngừng dùng buspiron khi điều trị bằng thuốc ức chế IMAO và 15 ngày sau khi ngừng thuốc ức chế IMAO.
+ Diazoxyd; dihydropyridin; diltiazem hoặc các thuốc tương tự; guanethidin hoặc tương tự như sotalol; thuốc chẹn beta; thuốc giãn mạch chống tăng huyết áp; thuốc ức chế enzym chuyển dạng angiotensin; verapamil: Sử dụng đồng thời các thuốc này có thể dẫn đến những biến động huyết áp nghiêm trọng. Các thuốc ức chế IMAO được sử dụng khá hiếm, giữ khoảng cách từ 2 đến 3 tuần sau khi ngừng thuốc và trước khi kê đơn thuốc ức chế IMAO.
+ Gluthetimid hoặc các thuốc tương tự; medifoxamin; viloxazin: Dùng đồng thời hai thuốc này có thể dẫn đến biến động huyết áp quan trọng và tác dụng ức chế hệ thần kinh
trung ương. Tuân thủ khoảng cách 2 đến 3 tuần sau khi ngừng thuốc và trước khi kê đơn thuốc ức chế IMAO.

mức độ 1

+ Amphetamin hoặc các chất dẫn chất: Phản tác dụng, làm tăng tính hung hãn ở người nghiện amphetamin. Khuyên người bệnh gặp lại bác sĩ điều trị, nếu thấy kết quả không bình thường.

+ Barbituric; primidon: Thuốc ức chế IMAO ức chế chuyển hoá các thuốc này ở
gan và kéo dài tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương. Phải tính đến tăng an thần trong và sau khi điều trị, nhất ở người lái tàu xe và người vận hành máy móc. Người bệnh không được uống rượu trong khi đang dùng thuốc.
+ Benzamid; thuốc an thần khác: làm tăng tác dụng ức chế hệ hệ thần kinh trung ương, dẫn đến tăng tác dụng an thần. Cần điều chỉnh liều của hai thuốc. Khuyên người bệnh không uống rượu và không tự ý dùng thuốc hoặc chế phẩm có rượu.
+ Clonidin hoặc thuốc tương tự: Sử dụng đồng thời hai thuốc này có thể dẫn đến những biến động huyết áp nghiêm trọng, thêm tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương. Các thuốc ức chế IMAO được sử dụng khá hiếm trong điều trị, nên giữ khoảng cách 2 đến 3 tuần sau khi ngừng thuốc và trước khi kê đơn thuốc ức chế IMAO.
+ Dẫn chất phenothiazin: Làm tăng tác dụng an thần và hạ huyết áp thế đứng, chú ý người bệnh cao tuổi nhạy cảm với hạ huyết áp thế đứng, và tăng các phản ứng ngoại tháp. Phối hợp phải được theo dõi đặc biệt ở người bệnh cao tuổi, những người
lái tàu xe hay những người vận hành máy móc. Người bệnh không dùng thêm rượu.
+ Thuốc gây mê các loại: Làm tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, dẫn đến tăng tác dụng an thần. Khuyên người bệnh trước khi phẫu thuật cần thông báo cho người gây mê các thuốc đang dùng.
+ Thuốc kháng histamin kháng H1 an thần: Sử dụng đồng thời với thuốc ức chế IMAO có thể kéo dài tác dụng kháng cholinergic và ức chế hệ thần kinh trung ương. Nên tránh kết hợp này, hãy thay đổi chiến lược điều trị.
+ Thuốc gây mê barbituri: làm nguy cơ tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương. Nếu cần phối hợp, lưu ý nguy cơ này để lựa chọn liều phù hợp. Yêu cầu người bệnh thông báo cho người gây mê việc dùng thuốc ức chế IMAO.

Lưu ý: Bài viết của chúng tôi chỉ tập hợp các kiến thức về y khoa.Mục đích của chúng tôi không nhằm hướng dẫn về thuốc,Không thể thay thế chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.Đây không phải là lời khuyên của bác sỹ.Vui lòng gặp bác sỹ chuyên khoa để được tư vấn chính xác.

Tìm hiểu : Nigga là gì 

  • Leave Comments